TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIÁC TIÊN

(1880-1936)

 

 

Nhân biên dịch tác phẩm của ngài, mặc dầu có một số bài viết về tiểu sử của ngài,1 người biên dịch xin trích toàn văn bài Bia Minh bằng Việt ngữ hiện đang an trí trước bảo tháp của ngài như là tiểu sử để quý độc giả xa gần có thể biết được hành trạng của một bậc đạo sư tôn kính như ngài.

 

Hòa Thượng khai sơn Chùa Trúc Lâm Đại Thánh, Trú Trì Chùa Ngự Chế Diệu Đế, sáng lập Chứng Minh Đại Đạo Sư Hội An Nam Phật Học, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế Chánh Tông, húy thượng Trừng hạ Thành, tự Chí Thông, hiệu Giác Tiên.

Đại sư Hòa Thượng Giác Tiên, họ Nguyễn,2 quán Dạ Lê Thượng, Huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên, hạ sanh năm Tự Đức 33, Canh Thìn (1880).3 Năm 11 tuổi, buồn táng song thân, cảm đời mộng ảo, lập chí xuất trần, đến lễ Hòa Thượng Tâm Tịnh Chùa Từ Hiếu, xin làm đệ tử xuất gia.4Sư vốn căn tánh thông lợi, kinh luật am tường, thường muốn kết am chuyên tu trên núi Dương Xuân. Tỳ Kheo Ni Hồ thị, pháp danh Thanh Linh, hiệu Diên Trường,5 cảm mộ chí sư, lập Chùa Trúc Lâm, mời sư làm Tọa Chủ khai sơn. Từ đây Thiền lâm viên đốn, mưa pháp lan truyền. Năm 28 tuổi (1908), thọ giới Cụ Túc với Hòa Thượng Vĩnh Gia tại Giới Đàn Chùa Phước Lâm,6 Tỉnh Quảng Nam. Kế tập chúng giảng học tại Chùa Thiên Hưng, đại chúng tăng ni, quân triêm lợi ích. Được bổn sư Tâm Tịnh phú pháp kệ:7

Giác đạo kiếp không tiên

Không không Bát Nhã thuyền

Quả nhân phù hạnh giải

Xứ xứ tức an nhiên

Đối việc y bát tương tuyền, thiệu long giống Phật, sư không hề từ thác. Năm Khải Định Giáp Tý (1924), họp Thiền môn pháp lữ, mở Giới Đàn tại Chùa Từ Hiếu, thỉnh Tâm Tịnh Hòa Thượng làm Đàn Đầu truyền giới. Năm Khải Định thứ 9 Ất Sửu (1925), họp đông đảo Thiền hòa, kết giới tu 9 tuần tại Chùa Tường Vân; hạnh giải công viên, phước tuệ song tiến, tự tha đều lợi. Sư là anh tài của Phật Tổ, là rường cột của Thiền môn, hằng ngày thường tham câu kệ: “Các pháp từ xưa nay, thường tướng tự vắng lặng.8

Năm Bảo Đại nguyên niên (1926), được cử làm Trú Trì Chùa Diệu Đế. Năm Bảo Đại thứ 6 (1931), sùng tu Chùa Trúc Lâm, Phật Điện, Tăng Đường một phen đổi mới.

Sư vốn có tâm hạnh Phổ Hiền, chí nguyện độ sanh, nên thỉnh Hòa Thượng Phước Huệ Chùa Thập Tháp Bình Định khai dẫn giảng học tại Chùa Trúc Lâm. Không bao lâu, thiện nam tín nữ thấm nhuần mưa pháp, phát chí Bồ Đề, nguyện cùng nhau hoằng thâm chánh giáo; cho nên Hội An Nam Phật Học, sớm xướng chiều thành, đại tiểu Phật Học Đường, kế tục khai sáng. Hội An Nam Phật Học được khuyếch trương chính là nhờ nguyện lực của sư.

Ngày mồng 2 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 11 (1936), sư tập họp đệ tử tụng Kinh Pháp Bảo Đàn, đến phẩm Bát Nhã, sư phó chúc gia nghiệp Phật pháp cho các đệ tử Mật Tín, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Tâm Minh. Qua ngày mồng 4, buông bỏ thế duyên, an nhiên viên tịch; thọ 57 tuổi đời, 29 Hạ lạp. Tháp dựng ở bên tả của chùa. Tâm kinh nói: “Xa lìa mộng tưởng điên đảo, cứu cánh Niết Bàn”, thật đáng tin vậy thay ! Pháp giới không sanh tử, đâu còn có giác duyên, nay Diêm Phù nguyện mãn, kể gì đến tháp bia.

Như đạo phong cao diệu, pháp độ hoằng viên như thầy chúng tôi, chúng tôi người sau cần nên ngẫm nghĩ. Do vậy, ghi lại dấu tích nơi đây, để làm nhân duyên cho đời cho đạo, nguyện mặt trời Phật càng thêm sáng mãi.9

Bài minh rằng:

Linh khí Hương Bình

Cửa Phật sinh tăng

Đồng niên diệu ngộ

Lòng trần đứng trong

Xả thân hoằng pháp

Thiện nghiệp trung hưng

Sấm vang chuông lớn

Giác tỉnh quần mông

Tăng đồ đông đảo

Duy sư cậy trông

Đêm dài dằng dặc

Đèn sư thắp chong

Bờ giác cao xa

Sư dẫn lên cùng

Hoa Đàm một đóa

Bí điển ngàn trùng

Đất trời xoay chuyển

Núi đạo chẳng rung

Bia đá sáng trong

Đời đời xưng tụng

Bảo Đại năm 12 Đinh Sửu (1937), tháp Chạp, ngày Phật Thành Đạo.

Phó Hội Trưởng Thượng Thư sung Quốc Sử Quán Tổng Tài Lê Nhữ Lâm9 phụng soạn.

An Nam Phật Học Hội Trưởng Hiệp Tá Đại Học Sĩ Nguyễn Đình Hòe đồng bổn Hội phụng lập.

 

PL. 2542, Từ Đàm, Mùa An Cư Mậu Dần

Hòa Thượng Thích Thiện Siêu cẩn dịch

 

 

Chú thích:

  1. Như trong Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế của Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 425~428); Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế của Điều Ngự Tử Tín Nghĩa (Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại tái bản, 1993, tr. 105~128); Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam, Tập I của Thích Đồng Bổn (Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, 1996, tr. 107~111).
  2. Về thế danh của ngài, một số tư liệu như: (1) bằng của Cơ Mật Viện cấp tặng ngân tiền cho ngài ghi Hán ngữ là “住持阮維棬 (Trú Trì Nguyễn Duy Quyền)” (Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế, tr. 142); (2) cũng trong tác phẩm Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế ghi là “Ngài họ Nguyễn Duy, húy là Quyển” (tr. 105); (3) trong tờ Titre d’Identité (tạm dịch là Giấy Chứng Minh) do Toàn Quyền Đông Dương (Gouvernment Général de l’Indochine) cấp vào ngày 17 tháng 7 năm 1923, ghi là Nguyễn Duy Quyển (bản nầy hiện còn tại Chùa Trúc Lâm); (4) trong bản gia phổ hiện thờ tại nhà thờ họ Nguyễn Duy ở Làng Dạ Lê Thượng, Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế, cũng ghi dòng chữ “Hòa Thượng Nguyễn Duy Quyển (和尚阮維巻)”; (5) trong bức Hộ Giới Điệp (hiện tồn tại Chùa Trúc Lâm) của Đại Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm, được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 3 năm Canh Tuất (1910, Duy Tân thứ 4), có ghi dòng chữ: “Nguyễn Duy Quyền (阮維棬)”; (6) trong Hàm Long Sơn Chí (山志) quyển 1, phần Tâm Tĩnh Đệ Tử (心靜弟子) có ghi là: “Nguyễn Duy Trinh, pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông (阮維楨法名澄誠字至通).” Tổng hợp các tư liệu trên, chúng ta thấy rằng ngài có 3 tên khác nhau: Nguyễn Duy Quyền, Nguyễn Duy Quyển và Nguyễn Duy Trinh. Nếu xét về Hán tự, chữ quyển được viết là , ; nhưng chữ thì phiên âm là quyền. Hiện vẫn chưa có minh chứng nào cho biết vì sao có những sai khác như vậy.
  3. Về năm sinh của ngài, bản Titre d’Identité (tạm dịch là Giấy Chứng Minh) như có đề cập ở trên cung cấp một thông tin khác trong phần Date de naissance (ngày sinh) là “1879 (44 ans)”; nghĩa là sinh năm 1879 (44 tuổi), tức tính vào năm cấp giấy là 1923. Trong bức Hộ Giới Điệp của Đại Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm ghi rất rõ chi tiết quê quán cũng như giờ, ngày, tháng năm sinh của ngài là: “Đại Nam Quốc, Thừa Thiên Phủ, Hương Thủy Huyện, Dã Lê Tổng, Dã Lê Thượng Thôn, Nguyễn Duy Quyền, nguyên mạng Canh Thìn niên, thập nhất nguyệt, nhị thập nhị nhật, Dần bài chú sanh (大南國承天府香水縣野梨總野梨上村阮維棬元命庚辰年十一月二十二日寅牌注生, Nguyễn Duy Quyền ở Thôn Dã Lê Thượng, Tổng Dã Lê, Huyện Hương Thủy, Phủ Thừa Thiên, nước Đại Nam, nguyên mạng sanh vào giờ Dần [3~5 giờ sáng], ngày 22 tháng 11 năm Canh Thìn [1880]).”
  4. Trong bức Hộ Giới Điệp của Đại Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm cho biết rằng: “Ư Canh Tý niên tứ nguyệt sơ bát nhật, quy đầu Từ Hiếu Tự thủ, lễ Bổn Sư húy thượng Thanh hạ Ninh, hiệu Tâm Tĩnh, thế độ đệ tử pháp danh Trừng Thành tự Chí Thông (於庚子年四月初八日、皈投慈孝寺首、禮本師諱上清下寜、號心靜、剃度弟子法名澄誠字至通, vào ngày mồng 8 tháng 4 năm Canh Tý, đến quy đầu với vị đứng đầu của Chùa Từ Hiếu, lạy Bổn Sư húy Thanh Ninh, hiệu Tâm Tĩnh, xin làm đệ tử xuất gia, pháp danh là Trừng Thành, tự Chí Thông).” Năm Canh Tý ở đây là 1900, tức nhằm vào năm thứ 12 đời vua Thành Thái. Thông tin nầy khớp với những gì được ghi trong Hàm Long Sơn Chí (山志) quyển 1, phần Tâm Tĩnh Đệ Tử (心靜弟子): Thành Thái Canh Tý niên tứ nguyệt thế độ tự sơ bát nhật dĩ hạ (成泰庚子年四月剃度自初八日以下, xuất gia vào tháng 4 năm Canh Tý [1900], đời vua Thành Thái thứ 12, từ ngày mồng 8 trở về sau).” Qua đó, chúng ta có thể biết được đích xác ngày ngài Giác Tiên chính thức xuống tóc xuất gia thọ giới là mồng 8 tháng 4 năm Canh Tý (tức nhằm ngày Chủ Nhật, 6 tháng 6 năm 1900). Cũng trong bộ Hàm Long Sơn Chí quyển 1 nầy còn liệt kê rõ các huynh đệ của ngài Giác Tiên, theo thứ tự là: (1) Nguyễn Đình Huệ (阮廷惠), pháp danh Trừng Văn (澄聞), tự Chí Ngộ (至悟); (2) Nguyễn Duy Trinh (阮維楨), pháp danh Trừng Thành (澄誠), tự Chí Thông (至通); (3) Nguyễn Quang Pháp (阮光法), pháp danh Trừng Đoan (澄端), tự Chí Khiết (至潔); (4) Dương Phước Lệ (楊福棣), pháp danh Trừng Phát (澄發), tự Chí Tâm (至心); (5) Đỗ Khắc Dụng (杜克用), pháp danh Trừng Tuệ (澄慧), tự Chí Lâm (至臨); (6) Lê Hữu Nguyện (黎有願), pháp danh Trừng Tín (澄信), tự Chí Hạnh (至行); (7) Nguyễn Văn Đàm (阮文曇), pháp danh Trừng Hoa (澄花), tự Chí Quả (至果); (8) Nguyễn Đình Viên (阮廷圓), pháp danh Trừng Ba (澄波), tự Chí Tân (至津); (9) Nguyễn Văn Tú (阮文繡), pháp danh Trừng Nhã (澄雅), tự Chí Thanh (至清, tức ngài Giác Hải Chùa Giác Lâm); (10) Lê Thiên Huyên (黎千烜), pháp danh Trừng Ý (澄意), tự Chí Duyệt (至悅); (11) Trần Đình Thiện (陳廷善), pháp danh Trừng Tịch (澄寂), tự Chí Kiên (至堅); (12) Võ Văn Tử (武文子), pháp danh Trừng Thủy (澄水), tự Chí Thâm (至深, tức ngài Giác Nhiên, Đệ Nhị Tăng Thống); (13) Dương Phước Chước (楊福灼), pháp danh Trừng Quang (澄光), tự Chí Hòa (至和); (14) Dương Phước Đường (楊福榶), pháp danh Trừng Ngoạn (澄玩), tự Quang … (); (15) Nguyễn Xuân Tuyển (阮春譔), pháp danh Trừng Nguyên (澄元), tự Quang Hợp (光合); (16) Hoàng Hữu Giải (黃有解), pháp danh Trừng Châu (澄珠), tự Quang Lưu (光流). Như vậy, trên ngài Giác Tiên có 1 vị sư huynh là ngài Nguyễn Đình Huệ, pháp danh Trừng Văn, tự Chí Ngộ, tức là ngài Giác Nguyên (1877-1980) Chùa Tây Thiên, và 14 vị sư đệ. Trong số đó, có ngài Đỗ Khắc Dụng, pháp danh Trừng Tuệ, tự Chí Lâm, tức ngài Giác Viên (?-1942) ở Chùa Hồng Khê; ngài Nguyễn Văn Tú, pháp danh Trừng Nhã (澄雅), tự Chí Thanh, tức ngài Giác Hải (?-1940) ở Chùa Giác Lâm; ngài Võ Văn Tử, pháp danh Trừng Thủy, tự Chí Thâm, tức ngài Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Đệ Nhị Tăng Thống.
  5. Theo như long vị hiện thờ tại Nhà Tổ của chùa cho thấy hiệu của Sư Bà là Diên Trường (延長), chứ không phải là Diệu Trường (妙長) như các bản Danh Lam Xứ Huế của Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách (tr. 312), Những Ngôi Chùa Nổi Tiếng Việt Nam của Võ Văn Tường (tr. 442), Khảo Sát Câu Đối Ở Các Chùa Huế của Nguyễn Đình Minh Đức (tr. 144) đã có ghi. Riêng bản Văn Bia Chùa Huế do Giới Hương phỏng dịch thì bản chữ Hán ghi đúng là Diên Trường (延長), nhưng phần phiên âm thì lại ghi nhầm là Diệu Trường (tr. 214). Về pháp danh của Sư Bà, bài vị ghi là Thanh Linh (清姈), chứ không phải là Thanh Cấm (清妗) như bản Văn Bia Chùa Huế do Giới Hương phỏng dịch đã nhầm (tr. 214, 215).
  6. Như có đề cập trong lời nói đầu của tác phẩm, Đại Giới Đàn nầy được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 3 năm Canh Tuất (1910, Duy Tân thứ 4) tại Chùa Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam. Cùng thọ giới tại giới đàn nầy có các ngài Tịnh Khiết, Giác Nhiên, Giác Viên, sư bà Diên Trường, v.v. (Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế, tr. 435, 505, 523; Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh, tr. 163). Đặc biệt, ngài Giác Tiên được đặc cách cho thọ Tam Đàn Cụ Túc, cho nên trong Hộ Giới Điệp của ngài có ghi dòng chữ: “Thọ Tam Đàn Cụ Túc giới đệ tử pháp danh Trừng Thành tự Chí Thông thu chấp (受三壇具足戒弟子法名澄誠字至通收執, đệ tử thọ giới Tam Đàn Cụ Túc pháp danh Trừng Thành tự Chí Thông nhận lấy).”
  7. Bài kệ nầy có trong bản Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, hiện tồn tại Chùa Trúc Lâm) do ngài Tâm Tĩnh ấn ký ngày “Khải Định nguyên niên, tuế thứ Bính Thìn thập nhất nguyệt thập thất nhật (啟定元年歲次丙辰十一月十七日, năm đầu đời vua Khải Định, ngày 17 tháng 11 năm Bính Thìn [nhằm ngày 11 tháng 12 năm 1916]).” Nguyên văn chữ Hán của bài kệ là: “Giác đạo kiếp không tiên, không không Bát Nhã thuyền, quả nhân phù hạnh giải, xứ xứ tức an nhiên (覺道刧空先、空空般若禪、果因符行解、處處卽安然).
  8. Câu kệ nầy được tìm thấy trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262), Phẩm Phương Tiện (方便品) thứ 2; nguyên văn là: “Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng (諸法從本來、常自寂滅相).”
  9. Ông xuất thân ấm sinh, thi đỗ Cử Nhân năm 1906 dưới triều vua Thành Thái. Trải qua các chức thuộc quan, thăng lên đến Hàn Lâm Viện Thị Giảng và sung chức Giảng tập cho Hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này). Ông đã từng theo Vĩnh Thụy sang Pháp trong suốt thời kỳ du học. Năm 1933, cụ trở về nước, được bổ làm Tổng Tài Quốc Sử Quán, chỉ đạo việc biên soạn các phần tiếp theo của bộ Đại Nam Thực Lục. Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông trở về quê cư trú, sống bình dị mộc mạc giữa xóm làng, đến năm 1963 thì qua đời. (Theo nguồn của Dư Địa Chí Thừa Thiên-Huế)

Bác sĩ Tâm Minh Lễ Đình Thám (1897-1969), đệ tử của Tổ Giác Tiên, có đi hai câu đối hiện có tại hai trụ trước của tháp ngài Tổ: “Quán tướng nguyên vọng quán tánh nguyên chơn viên giác diệu tâm ninh hữu ngã, chúc pháp linh truyền chúc sanh linh độ thừa đương di huấn khởi vô nhân (觀相元妄觀性元眞圓覺妙心寧有我囑法令傳囑生令度承當遺訓豈無人, quán tướng vốn giả quán tánh là chơn viên giác diệu tâm sao có ngã, dặn pháp được truyền dặn người được độ đảm đương di huấn không người chăng).”